*Bệnh đau nửa đầu thường gặp ở phụ nữ, cơn đau đầu tiên hay xảy ra ở tuổi dậy thì, có thể cơn đau chỉ xuất hiện vài năm, nhưng có khi kéo dài suốt đời. Các yếu tố có thể làm bệnh nặng hơn là : chấn thương sọ não, các chấn thương tinh thần, có các bệnh thuộc hệ động mạch cảnh ngoài.
.NGUYÊN NHÂN VÀ CƠ CHẾ BỆNH SINH
1.Cơ chế bệnh sinh.
-Năm 1930, Graham và Wolff theo dõi lâm sàng thấy đau đầu migraine liên quan với sự giãn các mạch máu ngoài sọ và sự co các mạch máu trong sọ.
-Các chất kinin phân tiết trong thành mạch gây hiện tượng phù nề và đau đớn.
-Trong giai đoạn đầu của cơn đau, có tăng nồng độ serotonin trong máu, serotonin giảm xuống gây giãn mạch và xuất hiện cơn đau.
-Khoảng 50-90% bệnh nhân đau đầu migraine có tiền sử gia đình rõ rệt.
2.Nguyên nhân.
Cơn đau xảy ra do sự giãn nở và gia tăng biên độ đập của các mạch máu.
3.Nguyên nhân theo Đông Y.
Đông Y thường nhận định đau đầu do 2 nguyên nhân lớn là : cảm nhiễm ngoại tà và nội thương bất túc.
-Cảm nhiễm ngoại tà : phong, hàn, thử, thấp, táo, hoả, trong đó phong là nhiều nhất.
Phong tà thường hiệp với các tà khác thành : phong hàn, phong nhiệt, phong thấp, phong thấp nhiệt :
+Phong hàn tập biểu thì hàn ngưng huyết sáp;
+Phong nhiệt tập biểu thì thượng nhiễu thanh không;
+Phong thấp tập biểu thì thượng mông thanh dương; v.v…
-Nội thương bất túc. Não là bể của tuỷ (não vi tuỷ hải); não vận hành được là nhờ tinh huyết của can thận (thận sinh tinh, tinh sinh tuỷ, tuỷ sinh cốt, cốt tuỷ sinh huyết) và chất tinh vi thuỷ cốc do tỳ vận hoá; tinh huyết và cốc khí không cung cấp đầy đủ để nuôi dưỡng não ắt sinh đau đầu :
+Can khí bất hoà, can mất sự điều đạt, can uất khí trệ, uất lâu hoá hoả. +Hoả thịnh đốt âm dẫn đến can thận âm suy, can dương vượng.
+Can âm bất túc, can dương thượng cang.
+Tỳ hư không sinh hoá được, khí huyết khuy hư; khí hư thì thanh không thăng; huyết hư thì não tuỷ mất sự nuôi dưỡng.
+Tỳ mất kiện vận thì đờm trọc sinh ra từ bên trong (nội sinh), thấp tà trở ngại ở trung tiêu (trung trở), khí cơ thăng giáng mất sự điều hoà.
+Phòng lao quá độ, hao tổn thận tinh, dẫn đến tuỷ hải không được sung mãn (bất sung), hoặc thận dương suy nhược, lạnh theo đó mà sinh ra từ bên trong, thanh dương mất sự khoáng đãng (thất khoáng).
+Thận âm bất túc, thuỷ không hàm mộc, phong dương nhiễu lên trên (thượng nhiễu).
+Đau đầu lâu ngày không chữa trị khỏi, bệnh lâu nhập lạc, sinh đau đầu do huyết ứ. *Nói tóm lại, đau đầu là do : +Sự mất cân bằng trong cơ thể như : âm hư, dương hư, khí hư, huyết hư, thận âm hư, thận dương hư, khí âm đều hư, …
+Sự thương tổn hoặc bất thường của tạng phủ như : can vượng, can dương thượng cang, can dương hoá phong, đờm trọc, …
+Tiên thiên bất túc, di truyền. +Chấn thương.
+Viêm nhiễm.
+Tâm lý.
.TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG VÀ PHÂN LOẠI
Căn cứ theo triệu chứng lâm sàng có thể chia thành 4 loại : cơn migraine đơn thuần, cơn migraine loạn thị, cơn migraine hỗn hợp, cơn migraine có dấu hiệu thần kinh định vị.
a)Cơn migraine đơn thuần. Đau đầu vùng trán, thái dương, đau theo nhịp mạch, cơn đau có thể lan sang bên đối diện. Cơn đau thường kéo dài 10-24 giờ, sau đó người bệnh giảm đau, trở lại bình thường.
b)Cơn migraine loạn thị. Người bệnh có rối loạn thị giác, xuất hiện một vài điểm chói sáng, có thể thấy mầu sắc chói lọi hoặc bán manh đồng dạng kéo dài từ vài phút đến vài giờ trước khi đau đầu. Đau đầu vùng trán, thái dương, đau theo nhịp mạch, cơn đau có thể lan sang bên đối diện. Cơn đau thường kéo dài 10-24 giờ, sau đó người bệnh giảm đau và trở lại bình thường.
c)Cơn migraine hỗn hợp. Trước khi lên cơn từ vài giờ đến vài ngày, người bệnh có một số triệu chứng báo trước (tiền triệu) như : rối loạn thần kinh, thay đổi tính tình, có thể có cơn trầm cảm. Người bệnh có rối loạn thị giác, xuất hiện một vài điểm chói sáng, có thể thấy mầu sắc chói lọi hoặc bán manh đồng dạng kéo dài từ vài phút đến vài giờ trước khi đau đầu. Đau đầu vùng trán, thái dương, đau theo nhịp mạch, cơn đau có thể lan sang bên đối diện. Cơn đau thường kéo dài 10-24 giờ, sau đó người bệnh giảm đau và trở lại bình thường.
d)Cơn migraine có dấu hiệu thần kinh định vị. Hay gặp nhất. Đặc điểm là : sau mỗi cơn đau, người bệnh có các dấu hiệu thần kinh định vị như liệt dây vận nhãn cầu, liệt tay, liệt nửa người. Các dấu hiệu này tồn tại một thời gian sau mất dần.
D.CHẨN ĐOÁN
a.Chẩn đoán xác định. Dựa vào triệu chứng lâm sàng, tiền sử bản thân và gia đình.
b.Chẩn đoán phân biệt.
1.Bệnh Horton. Bệnh hay gặp ở đàn ông trung niên, khi đau thường có các triệu chứng : vã mồ hôi, xung huyết da và niêm mạc mắt, mũi một bên, chụp động mạch thái dương thấy hẹp và tắc, viêm động mạch thái dương, đau đầu liên tục không có cơn.
2.Hội chứng Bing-Sluder-Horton.
3.Cơn giãn mạch ở các nhánh sâu và nông của động mạch cảnh ngoài.
Chứng đau nửa đầu có yếu tố gia đình, nếu cha hoặc mẹ bị đau nửa đầu thì tỷ lệ các con bị bệnh là 44%, trong trường hợp cả cha và mẹ đều bị đau nửa đầu thì tỷ lệ bệnh của các con lên đến 70%.
Cơn đau thường được khởi phát bởi một số yếu tố sau: khi bệnh nhân bị stress, chịu những biến cố đột ngột xảy đến… Đau nửa đầu cũng liên quan đến nội tiết, chính vì vậy cơn đau thường xảy ra trong chu kỳ kinh nguyệt, ở tuổi dậy thì, thời kỳ tiền mãn kinh, khi dùng thuốc ngừa thai… Có thể có các triệu chứng báo trước như: rối loạn tiêu hóa (chướng bụng, đầy hơi, chán ăn hoặc ăn nhiều); thay đổi tính tình đột ngột như rơi vào trạng thái trầm cảm, lo âu, hoặc ngược lại, thể hiện một trạng thái hưng phấn như vui vẻ thái quá, hăng hái làm việc, nói nhiều…
Một cơn đau đầu điển hình thường kéo dài từ 4-24 giờ, một số trường hợp nặng có thể kéo dài lâu hơn. Những triệu chứng đi kèm với cơn đau nửa đầu thường gặp như buồn nôn, nôn ói, sợ tiếng động, sợ gió, sợ ánh sáng, tính tình thay đổi.
Điều trị bệnh đau nửa đầu không đơn giản, bởi không có loại thuốc nào có thể điều trị lành bệnh hoàn toàn mà chỉ có những loại thuốc cắt cơn đau và phòng ngừa cơn đau, điều quan trọng là sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân.